DIỄN NGÔN TANG MA TRONG QUAM XỐNG PHÌ KHỬN PHẠ (LỜI TIỄN HỒN NGƯỜI CHẾT LÊN TRỜI) CỦA NGƯỜI THÁI Ở SƠN LA

650

    Hà Thị Mai Thanh

Giảng viên Khoa Khoa học xã hội

Tóm tắt: Bài viết này nghiên cứu diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời) của người Thái ở Sơn La. Bài viết được triển khai theo hướng mô tả một số đặc điểm của diễn ngôn tang ma qua chủ đề và sự biểu hiện nội dung. Từ ngữ liệu khảo sát, có thể nhận thấy, chủ đề diễn ngôn được thể hiện ở khung chủ đề và tổ hợp tiền giả định (các chủ thể diễn ngôn). Bên cạnh đó, sự biểu hiện nội dung được thể hiện ở hai phương diện: thế giới quan của người Thái và sự xác định địa bàn cư trú của người Thái qua nghi thức tang ma.

Từ khóa: diễn ngôn tang ma, chủ đề, sự biểu hiện nội dung, người Thái ở Sơn La.

  1. Đặt vấn đề

Trong Phân tích diễn ngôn, Gillian Brown – Geoege Yule đã “khảo sát quá trình con người sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp như thế nào, mà cụ thể là người phát đã tạo ra các thông điệp ngôn ngữ như thế nào để hiểu được chúng” [2, 10]. Từ đó, Gillian Brown – Geoege Yule [2] đã đi vào nghiên cứu vai trò của ngữ cảnh, chủ đề, sự biểu hiện nội dung, cấu trúc thông tin, tính mạch lạc,… của diễn ngôn. Trên cơ sở lí thuyết trên, bài viết này nghiên cứu đặc điểm của diễn ngôn tang ma trong Quam xống xán (Lời tiễn biệt) của người Thái ở Sơn La trên hai bình diện: chủ đề và sự biểu hiện nội dung của diễn ngôn.

 Trong nghi thức tang ma của người Thái, có ba áng mo thường được đọc ở lễ tang, bao gồm: Quam dai khuần (Lời rải hồn), Quam xống xán (Lời tiễn biệt) và Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời). Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời) là áng mo cuối cùng được đọc. Áng mo này do khười kốc (rể cả) đọc dưới sự hướng dẫn của phủ chau (người am hiểu về các thủ tục tang lễ).

Các phương pháp được sử dụng trong bài viết gồm: phương pháp ngôn ngữ học điền dã và phương pháp miêu tả. Bài viết được triển khai với hai bình diện: (1) Chủ đề của diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời) và (2) Sự biểu hiện nội dung của diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời). Ở bình diện chủ đề của diễn ngôn, hai tiểu bình diện được nghiên cứu, đó là: khung chủ đề của diễn ngôn và tổ hợp tiền giả định. Nguồn ngữ liệu được khảo sát bao gồm: (1) Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời), gồm 486 câu, ngữ liệu ghi âm tiếng Thái được cung cấp bởi bà Quàng Thị Inh, 84 tuổi, trú tại bản Giảng, thành phố Sơn La; (2) Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời), ngữ liệu ghi âm phần dịch sang tiếng Việt (dịch từ 576 câu tiếng Thái) được cung cấp bởi ông Quàng Văn Dân (82 tuổi), trú tại bản Mạt, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. 

  1. Đặc điểm của diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời) của người Thái ở Sơn La

  2.1. Chủ đề của diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời) của người Thái ở Sơn La

Theo Gillian Brown – Geoege Yule [2], chủ đề diễn ngôn “là cái được người ta nói và viết đến” [2, 123]. Từ đó, chủ đề của diễn ngôn tang ma trong các bài hát dùng trong tang lễ của người Thái Sơn La được tìm hiểu qua hai nội dung: (1) Khung chủ đề diễn ngôn và (2) Tổ hợp tiền giả định.

2.1.1. Khung chủ đề diễn ngôn

“Khung chủ đề bao gồm các yếu tố bắt nguồn từ ngữ cảnh có tính vật lí và cương vực diễn ngôn của một đoạn diễn ngôn” [2, 132]. Các yếu tố đó “đã được hoạt hóa, đó là những yếu tố tương thích cho việc giải thuyết điều được nói ra” [2, 132]. Có thể thấy, khung chủ đề là một tập hợp các thành tố được tạo nên bởi các sự vật, sự kiện. Các thành tố này được xác định trên cơ sở một ngữ cảnh nhất định, đi vào hoạt động giao tiếp để biểu hiện một chủ đề của diễn ngôn.

Diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời) của người Thái ở Sơn La có hai chủ đề chính: (1) Đời sống tâm linh của người Thái và (2) Vũ trụ quan của người Thái. Dưới đây là hai khung chủ đề trong Quam xống phì khửn phạ của người Thái ở Sơn La được xây dựng từ hai chủ đề trên.

Bảng 1: Khung chủ đề “Đời sống tâm linh của người Thái” của diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời)

Bảng 2: Khung chủ đề “Vũ trụ quan của người Thái” của diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời)

Các thành tố
tang Đẳm (đằng tổ tiên) → da Minh da Nén (thần trông coi số phận) → Thăm Tốm, Táng Bai bản Thúmthẳm Khi (hang Khi) → thẳm Luồng (hang Luồng) →  nặm Té (sông Đà) → đon Sái Tộc (bãi Sái Tộc) → nặm Té lông tảư (hạ dòng sông Đà) → Ít Ongpu khàu Ngộc, khàu Ngô (núi Ngộc, núi Ngố) → ta Khủm (sông Khủm) → ta Khái (sông Khái) → ta Lò (sông Lò) → then Chúc, then Chúa (các vị thần độc ác) → Liến Pán chảu Then Thóng (Niết Bàn chủ Then Thóng) → Mương Lo (Mường Lò) → Mương Lúng (mường Lúng) → Mương Chiến (mường Chiến) → Ít Ong → Mương Bú (mường Bú) → Mương Khiêng (mường Khiêng) → Bó MươiMương Muổi (Thuận Châu)

2.1.2. Tổ hợp tiền giả định

 Gillian Brown – Geoege Yule đã nhận định: “Đối với một diễn ngôn, luôn có một tổ hợp tiền đề chứa đựng thông tin” [2, 132]. Tổ hợp tiền đề này được tạo nên từ kiến thức chung, từ ngữ cảnh và từ bộ phận hoàn chỉnh của chính diễn ngôn. Theo hướng này, mỗi đối tượng tham gia có một tổ hợp tiền giả định và tổ hợp này được bổ sung khi diễn ngôn tiến triển. Trong tổ hợp tiền giả định đối với bất kì diễn ngôn nào luôn có một tập hợp các chủ thể diễn ngôn. “Chủ thể diễn ngôn tương thích với đoạn diễn ngôn hội thoại phải là những chủ thể được quy chiếu đến trong văn bản diễn ngôn” [2, 134].

Theo ngữ liệu khảo sát, những chủ thể được quy chiếu đến trong văn bản diễn ngôn bao gồm: (1) Người nói (khười kốc (rể cả) và phủ chau (người am hiểu về các thủ tục tang lễ); (2) Người nghe (bao gồm: chảu – ông, bà – hồn người đã chết; Tay hươn (người trong gia đình); Tay bản – người trong bản mường). Trong nghi thức tang ma của người Thái, khười kốc (rể cả) có vai trò rất quan trọng. Khười kốc (rể cả) được chọn từ một trong các con rể của người đã chết. Nếu người đã mất không có con rể thì rể cả có thể là con rể của con trai người chết hoặc con rể của em gái hoặc em trai người chết. Nhiệm vụ lớn nhất mà người rể cả đảm nhiệm là đọc lời dẫn hồn người chết lên Trời dưới sự hướng dẫn của phủ chau (người am hiểu về các thủ tục tang lễ).

2.2. Sự biểu hiện nội dung của diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời) của người Thái ở Sơn La

2.2.1. Thế giới quan của người Thái qua nghi thức tang ma

Sau khi chết, khuần phì (hồn người chết) phải đi một chặng đường dài để đến được Liến Pán chảu Then Thóng (Niết Bàn chủ Then Thóng).

          (VD1) Chảu cài pày họt Thăm Tốm, Táng Bai / Kai pày họt Ko, bản Thúm / Kai pày họt thẳm Khi / Kai pày họt thẳm Luông (1) – Ngài đi đến Thăm Tốm, Táng Bai / Đi đến Ko, bản Thúm / Đi đến hang Khi / Đi đến hang Luông (2).

          (VD2) Kai pày họt nặm Té / Chắng liệp nặm Té khửn nừa (1) – Đi đến sông Đà / Mới ngược sông Đà (đi) lên phía trên (2).

          (VD3): Chảu kai pày họt đon Sái Tộc / Liệp nặm Té lông tảư (1) – Ngài đi đến bãi Sái Tộc / Ngược sông Đà xuống phía dưới (2).

          (VD4): Mưa tang nặm ta Khúm phóng nhai / Nặm ta Khái phóng pho / Nặm ta Ló phóng phẳn (1) – Đi đường sông Khúm sóng tan / Sông Khái sóng cuộn / Sông Lò sóng dữ (2).

          (VD5) Mưa họt nong luồng nong U Va mương Phạ / Nong lài lạk ka dông / Chảu àu phải họi ngơn pông mưa sia hảư xàu (1) – Đi đến ao lớn U Va mường Trời / Ao nhiều quạ lạc / Ngài lấy vải trăm bạc ném cho họ (2),…

Với các biểu thức ngôn ngữ Thăm Tốm, Táng Bai, Ko, bản Thúm, thẳm Khi (hang Khi), thẳm Luông (hang Luông), nặm Té (sông Đà), đon Sái Tộc (bãi Sái Tộc), ta Khúm (sông Khúm), ta Khái (sông Khái), ta Ló (sông Lò), nong U Va mương Phạ (ao U Va mường Trời),… ở ví dụ 1,2,3,4,5 đã tái hiện những chặng đường mà khuần phì phải vượt qua.  

Theo quan niệm của người Thái, sau khi chết, con người sẽ đến được một thế giới hoàn toàn khác.

          (VD6): Mương kìn khảu báu đảy hà / Kìn pà báu đảy sự / Khảu mết khảu hák ma / Pà mết hák khảu / Mương báu dệt hák đảy kìn ngai (1) – Mường ăn cơm không phải kiếm / Ăn cá không phải mua / Gạo hết gạo tự đến / Cá hết cả tự vào / Mường không làm vẫn được ăn cơm,….

Trong ngữ liệu trên, các biểu thức ngôn ngữ được đưa ra với tư cách là các cặp nguyên nhân – kết quả. Tuy vậy, kết quả lại không theo lẽ thường, cụ thể ở những biểu thức ngôn ngữ như: kìn khảu (ăn cơm) → báu đảy hà (không phải kiếm), kìn pà (ăn cá) → báu đảy sự (không phải mua),  khảu mết (gạo hết) → khảu hák ma (gạo tự đến), pà mết (cá hết) → hák khảu (tự vào), báu dệt (không làm) → hák đảy kìn ngai (vẫn được ăn cơm),… Có thể thấy, thế giới quan của người Thái tồn tại một nhận thức về một cuộc sống khác mở ra cho con người sau khi chết – đó là một nơi an nhàn, hạnh phúc và đủ đầy.

2.2.2. Sự xác định địa bàn cư trú của người Thái ở vùng Tây Bắc qua nghi thức tang ma

Trong áng mo, hồn người chết phải đi tới Mương Muổi (Thuận Châu).

          (VD7) Chảu kài pày họt Mương Muổi (1) – Ngài đi đến Thuận Châu (2); Chắng liệp nặm Té khửn nừa (1) – Mới ngược sông Đà (đi) lên phía trên (2); Liệp nặm Té lông tảư (1) – Ngược sông Đà xuống phía dưới (2);…

Sau khi đưa hồn người chết lên tới mường Trời, khười kốc (rể cả) dưới sự hướng dẫn của phủ chau (người am hiểu về các thủ tục tang lễ) đã gọi hồn đoàn người đi cùng trở về, họ đi qua những vùng đất thuộc địa bàn cư trú của các nhóm Thái Đen ở vùng Tây Bắc Việt Nam.

          (VD8) Ma họt Mương Lo / Ma họt Mương Min, họt Mương Lung / Họt Mương Chiên, họt Ít Ong / Họt Mương Khiêng / Họt Bó Mươi, họt bản Thum / Họt Mương Muổi (1) – Đến Mường Lò / Đến Mường Min, đến mường Lùng / Đến Mường Chiên, đến Ít Ong / Đến Mường Khiêng / Đến Bó Mười, đến bản Thum / Đến Thuận Châu (2).

Ngữ liệu 8 đã lần lượt kể tên những vùng đất tổ của đồng bào Thái Tây Bắc. Trước tiên đó là Mương Lo, Mương Min, Mương Lung (Mường Lò, Mường Min, Mường Lùng) ở Văn Chấn (Yên Bái) – nơi ông tổ Lạn Chượng đặt chân đến đầu tiên. Từ đó, họ tới Mương Chiên, Ít Ong (Quỳnh Nhai, Sơn La),… cuối cùng là tới Mương Muổi (Thuận Châu) – trung tâm của vùng Thái Tây Bắc.

  1. Kết luận sơ bộ

Diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời) của người Thái ở Sơn La được miêu tả trên hai bình diện là chủ đề và sự biểu hiện nội dung. Hai khung chủ đề và những chủ thể được quy chiếu đến trong văn bản diễn ngôn được tái hiện khi nghiên cứu chủ đề. Diễn ngôn tang ma trong Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời) còn thể hiện hai nội dung cơ bản, đó là: thế giới quan của người Thái và sự xác định địa bàn cư trú của người Thái qua nghi thức tang ma.

NGỮ LIỆU KHẢO SÁT

(1)  Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời), ngữ liệu ghi âm tiếng Thái được cung cấp bởi bà Quàng Thị Inh, 84 tuổi, trú tại bản Giảng, thành phố Sơn La, tháng 06 năm 2015.

(2) Quam xống phì khửn phạ (Lời tiễn hồn người chết lên trời), ngữ liệu ghi âm phần dịch sang tiếng Việt được cung cấp bởi ông Quàng Văn Dân (82 tuổi), trú tại bản Mạt, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, tháng 06 năm 2019. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục.

[2] Gillian Brown – Geoege Yule (2002), Phân tích diễn ngôn, Trần Thuần (dịch), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

[3] Hoàng Trần Nghịch – Tòng Kim Ân (1990), Từ điển Thái – Việt, Nxb Khoa học Xã hội.

[4] Hoàng Trần Nghịch (Sưu tầm, biên soạn) (2000), Lời tang lễ, Nxb Văn hóa Dân tộc.

[5] Cầm Trọng (2005), Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia.

            MOURNING DISCOURSE IN QUAM XỐNG PHÌ KHỬN PHẠ (FAREWELL TO THE DEAD SPIRITS) OF THAI PEOPLE IN SON LA

Abstract: This article studies the mourning discourse in Quam xống phì khửn phạ (Farewell to the dead spirits) of Thai people in Son La. The article is developed in the direction of describing some of the characteristics of the mourning discourse through the topic and the representation of content. Through the surveyed data, it can be seen that the discourse topic is expressed in the framework of the topic and the presupposition pools (discourse subjects). Besides, the expression of content is expressed in two aspects: world outlook of Thai people and locality identification of Thai people through funeral rites.

Keywords: mourning discourse, topic, representation of content, Thai people in Son La